Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ, Trung ương Đảng đã đề ra hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới mô hình phát triển đất nước cho giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130.
Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó, quan điểm thứ nhất thể hiện các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển, là thực hiện nhất quán “bốn kiên định”; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường vai trò giám sát, phản biện và tạo đồng thuận xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị. (Ảnh: Như Ý)
Quan điểm thứ hai thể hiện bản chất của Đổi mới mô hình phát triển đất nước, là đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới và xác định nội hàm của mô hình phát triển mới - Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập, mô hình lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu xuyên suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính; lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cũng nêu quan điểm thể hiện cơ chế vận hành và định vị các mô hình thành phần; quan điểm thể hiện định hướng khai thác, phát huy mọi nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng đến phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.
“Quan điểm thứ năm thể hiện phương thức thực hiện. Đổi mới mô hình phát triển phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết hữu cơ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất; lấy đổi mới thể chế và quản trị quốc gia là khâu đột phá; lấy hiệu quả điều phối, chất lượng phục vụ nhân dân, doanh nghiệp và năng lực giải quyết vấn đề làm thước đo”, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương nói.
Tổ chức lại không gian phát triển
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cũng nêu rõ, nghị quyết đặt các mục tiêu đến năm 2030, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130.
Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước thu nhập trung bình cao, có công nghiệp hiện đại. Tạo được đột phá về xây dựng, hoàn thiện thể chế và thực hiện quản trị quốc gia hiện đại; về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, hạ tầng chiến lược, hạ tầng năng lực tri thức quốc gia, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp dẫn dắt; thực hiện thắng lợi các mục tiêu Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Đến năm 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; các mô hình thành phần được hình thành đồng bộ.
Đến năm 2045, Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập và các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa. Kinh tế phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xanh, tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng…
Định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu Châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cũng nêu nghị quyết đề ra bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị, gồm bảy nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đề cập toàn diện từ nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, công tác xây dựng Đảng, tổ chức, cán bộ đến đổi mới quản trị thực thi nghị quyết của Đảng; xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, đổi mới quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; xây dựng pháp luật rõ ràng, khả thi, đồng bộ, ổn định, dễ thực hiện, thích ứng nhanh; xác lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát; xây dựng chính phủ số, dữ liệu dùng chung, nền tảng số; tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kinh tế, gồm 12 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, bao quát toàn diện từ xác lập mô hình tăng trưởng mới, đến tổ chức lại không gian phát triển; xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển ; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; phát triển các thị trường nhân tố sản xuất, phát triển thị trường giao dịch hàng hóa phái sinh; cải cách sâu rộng hệ thống tài chính, nâng hạng tín nhiệm quốc gia, thị trường chứng khoán; đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực quốc gia...
Với nhóm nhiệm vụ, giải pháp về xã hội, gồm bốn nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, đó là xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, có niềm tin, có khả năng thích ứng và phục hồi trước các biến động; xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, linh hoạt, thích ứng cao; chuyển dịch hệ thống y tế từ mô hình chữa bệnh sang phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe toàn diện; đổi mới quản trị phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa thị trường lao động.
Cùng với đó, nghị quyết cũng xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp về văn hóa, con người; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về môi trường sinh thái; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về quốc phòng, an ninh; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về đối ngoại và hội nhập quốc tế.