
TP.HCM nhìn từ trên cao - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Với 465/474 đại biểu có mặt tán thành, luật được kỳ vọng tạo một khung thể chế ổn định, lâu dài thay cho cách tiếp cận dựa nhiều vào các cơ chế thí điểm. Luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1-10-2026, riêng quy định về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo cơ chế mới của TP.HCM có hiệu lực từ ngày 1-9.
Điều đáng chú ý nhất không nằm ở việc TP.HCM được trao thêm một số cơ chế đặc thù, mà ở sự thay đổi về tư duy quản trị: thành phố được trao thêm quyền chủ động trong quyết định, huy động và phân bổ nguồn lực, đồng thời phải chịu trách nhiệm lớn hơn về kết quả phát triển. Đây chính là cơ hội lớn nhưng cũng là phép thử quan trọng đối với năng lực quản trị của một siêu đô thị.
Cơ hội đầu tiên là mở rộng không gian phát triển. Luật tạo cơ sở pháp lý cho TP.HCM phát triển các mô hình mới như khu thương mại tự do, khu logistics tích hợp, Trung tâm Tài chính quốc tế và các mô hình kinh tế mới. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao, thu hút dòng vốn quốc tế và nâng vị thế TP.HCM trong mạng lưới đô thị toàn cầu.
Đặc biệt, cơ chế đối với các dự án khu đô thị lấn biển có thể mở ra hướng phát triển mới cho không gian biển của thành phố. Nếu được triển khai với tầm nhìn dài hạn, khu vực Cần Giờ có thể không chỉ trở thành một dự án bất động sản quy mô lớn mà còn là cực tăng trưởng mới gắn với kinh tế biển, logistics, du lịch, dịch vụ tài chính và các ngành công nghiệp xanh. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực đòi hỏi tiêu chuẩn rất cao về môi trường, hạ tầng và quản trị rủi ro.
Cơ hội thứ hai là chuyển từ “xin cơ chế” sang “chủ động kiến tạo phát triển”. Luật tăng mức độ phân quyền và trao thêm thẩm quyền cho TP.HCM về tài chính, đầu tư, phát hành trái phiếu và quyết định chủ trương đầu tư một số dự án. Nếu được vận hành tốt, thành phố có thể rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị và triển khai dự án, nhất là các công trình hạ tầng chiến lược.
Đối với một đô thị có quy mô kinh tế lớn, nhu cầu đầu tư hạ tầng rất cao và tốc độ đô thị hóa nhanh, khả năng ra quyết định nhanh hơn có ý nghĩa đặc biệt. Thành phố có thể chủ động hơn trong phát triển giao thông công cộng, đường sắt đô thị, logistics, hạ tầng số, năng lượng và các không gian phát triển mới. Khi đó, Luật Phát triển đô thị không chỉ là một đạo luật về quản lý đô thị, mà có thể trở thành công cụ thúc đẩy tăng trưởng.

Tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Cơ hội thứ ba là tạo nền tảng cho một mô hình quản trị đô thị hiện đại hơn. Khi quyền lực được phân cấp mạnh hơn, chính quyền thành phố có điều kiện phản ứng nhanh hơn trước các vấn đề thực tế. Nhưng đi cùng quyền lực phải là trách nhiệm giải trình. Chính khung “trao quyền đi đôi với kiểm soát” sẽ quyết định thành công của luật. Các cơ chế kiểm soát quyền lực, giám sát và trách nhiệm giải trình được đặt ra để hạn chế nguy cơ phân quyền trở thành tùy tiện.
Tuy nhiên, thách thức lớn nhất có thể không nằm ở việc thiếu cơ chế mà nằm ở năng lực thực thi. Chỉ vài ngày sau khi luật được thông qua, TP.HCM đã phải khẩn trương xây dựng hệ thống văn bản cụ thể hóa. Thành phố dự kiến cần tới 147 nghị quyết liên quan để triển khai luật, trong khi lãnh đạo thành phố phát động chiến dịch “30 ngày đêm” nhằm hoàn thành các văn bản cần thiết trước ngày luật có hiệu lực.
Điều này cho thấy một nghịch lý: luật càng trao nhiều quyền thì yêu cầu về năng lực thể chế càng cao. Nếu đội ngũ thực thi chưa đủ năng lực, quy trình nội bộ vẫn phức tạp hoặc các cơ quan còn tâm lý sợ trách nhiệm, quyền hạn mới có thể không chuyển hóa thành kết quả thực tế.
Thách thức thứ hai là nguy cơ phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững. Khi thành phố có thêm quyền huy động vốn, khai thác đất đai và phát triển các không gian mới, áp lực thương mại hóa đất đai cũng sẽ gia tăng. Nếu thiếu quy hoạch tích hợp và cơ chế giám sát chặt chẽ, lợi ích ngắn hạn từ bất động sản có thể lấn át mục tiêu phát triển hạ tầng, môi trường và chất lượng sống.
TP.HCM vì vậy cần tránh tư duy “có đất thì phát triển dự án”, mà phải chuyển sang “có chiến lược phát triển thì mới phân bổ đất và nguồn lực”. Mỗi dự án lớn cần được đánh giá không chỉ bằng số vốn đầu tư hay nguồn thu ngân sách, mà bằng khả năng tạo việc làm chất lượng cao, tăng năng suất, phát triển công nghệ, kết nối vùng và cải thiện chất lượng sống.

Cảng Cát Lái, TP.HCM - Ảnh: QUANG ĐỊNH
Thách thức thứ ba là bài toán phối hợp vùng. TP.HCM mới không thể phát triển như một đô thị biệt lập. Các vấn đề giao thông, cảng biển, logistics, nguồn nước, môi trường, nhà ở và thị trường lao động đều vượt qua ranh giới hành chính. Vì vậy, quyền tự chủ lớn hơn của TP.HCM phải đi cùng năng lực điều phối với Đồng Nai, Tây Ninh và các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Sau cùng, thước đo thành công của Luật Phát triển đô thị không phải là TP.HCM ban hành được bao nhiêu nghị quyết hay có thêm bao nhiêu quyền hạn. Thước đo phải là người dân đi lại thuận tiện hơn, doanh nghiệp đầu tư dễ hơn, hạ tầng tốt hơn, môi trường sống an toàn hơn và năng suất kinh tế cao hơn.
Luật đã mở cánh cửa rất lớn. Nhưng mở cửa chỉ là bước đầu. Cơ hội có trở thành động lực tăng trưởng hay không phụ thuộc vào cách TP.HCM sử dụng quyền lực mới, lựa chọn dự án, quản lý nguồn lực và kiểm soát chính mình.
Với TP.HCM, giai đoạn từ nay đến khi luật có hiệu lực không chỉ là thời gian để hoàn thiện văn bản. Đó là thời điểm để chứng minh rằng phân quyền có thể tạo ra phát triển nhanh hơn, nhưng phát triển nhanh chỉ có ý nghĩa khi đi cùng minh bạch, trách nhiệm và chất lượng sống của người dân.