Theo báo cáo cập nhật ngành ngân hàng quý III/2026 của Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội - Sài Gòn (SHS), chất lượng tài sản tại 27 ngân hàng niêm yết tiếp tục có dấu hiệu suy giảm. Tại ngày 30/9/2026, tỉ lệ nợ xấu toàn nhóm đạt 2,12%, tăng 0,25 điểm phần trăm so với mức 1,87% cuối năm 2025.
Diễn biến các chỉ tiêu chất lượng tài sản của 27 ngân hàng
Chỉ tiêu | Năm 2025 | 9T/2026 |
|---|---|---|
Tỉ lệ nợ xấu | 1,87% | 2,12% |
Tỉ lệ nợ nhóm 2 | 1,17% | 1,59% |
Hình thành nợ xấu mới | 1,32% | 1,55% |
Tỉ lệ bao phủ nợ xấu | 83% | 74% |
Chi phí tín dụng | 1,11% | 1,19% |
Nguồn: SHS Research.
Không chỉ nợ xấu, các khoản vay có dấu hiệu suy giảm chất lượng cũng gia tăng. Tỉ lệ nợ nhóm 2 tăng từ 1,17% lên 1,59% trong cùng giai đoạn. Tỉ lệ hình thành nợ xấu mới tăng từ 1,32% năm 2025 lên 1,55% trong 9 tháng đầu năm 2026, trong khi chi phí tín dụng tăng từ 1,11% lên 1,19%.
Ở nhóm ngân hàng quốc doanh, số liệu tại ngày 30/9/2026 cho thấy tổng nợ xấu nhóm 3-5 của Vietcombank, VietinBank và BIDV đạt 86.085 tỷ đồng. Trong đó, BIDV có số dư nợ xấu lớn nhất với 47.486 tỷ đồng, tiếp đến là VietinBank với 25.781 tỷ đồng và Vietcombank với 12.818 tỷ đồng.
Nợ xấu tại ba ngân hàng quốc doanh
Ngân hàng | Nợ xấu nhóm 3-5 tại 30/9/2026 |
|---|---|
BIDV | 47.486 tỷ đồng |
VietinBank | 25.781 tỷ đồng |
Vietcombank | 12.818 tỷ đồng |
Tổng cộng | 86.085 tỷ đồng |
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026 của các ngân hàng.
Một trong những điểm đáng chú ý trong bức tranh chất lượng tài sản là tỉ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) giảm từ 83% cuối năm 2025 xuống còn 74% vào ngày 30/9/2026.

Bộ đệm dự phòng suy giảm, chi phí trích lập tăng mạnh.
Chi phí dự phòng của 27 ngân hàng niêm yết tăng 42,5% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng 27,2% của lợi nhuận trước dự phòng.
Trong 9 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế của nhóm ngân hàng đạt 311.100 tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ. Riêng quý III, lợi nhuận trước thuế đạt 105.800 tỷ đồng, tăng 21,1%.
Tại Vietcombank, chi phí dự phòng quý III đạt 6.200 tỷ đồng, gấp 8 lần cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tỉ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng vẫn đạt 243%, thuộc nhóm cao nhất ngành.
VietinBank ghi nhận chi phí dự phòng quý III đạt 7.800 tỷ đồng, tăng 32,7% so với cùng kỳ. Tỉ lệ bao phủ nợ xấu đạt 160%.
Trong khi đó, BIDV ghi nhận chi phí dự phòng quý III đạt 6.640 tỷ đồng, giảm 25% so với cùng kỳ. Tỉ lệ bao phủ nợ xấu tại ngày 30/9/2026 ở mức 73%, giảm so với mức 100% cuối năm 2025.
So sánh số dư dự phòng và khả năng bao phủ nợ xấu
Ngân hàng | Dự phòng cuối Q3/2026 | Nợ xấu cuối Q3/2026 | Tỉ lệ bao phủ |
|---|---|---|---|
Vietcombank | 31.168 tỷ đồng | 12.818 tỷ đồng | 243% |
VietinBank | 41.353 tỷ đồng | 25.781 tỷ đồng | 160% |
BIDV | 34.871 tỷ đồng | 47.486 tỷ đồng | 73% |
Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026 của các ngân hàng.
Trong khi Vietcombank và VietinBank duy trì tỉ lệ bao phủ cao, BIDV ghi nhận mức bao phủ thấp hơn đáng kể. Với số dư nợ xấu 47.486 tỷ đồng, dự phòng rủi ro tín dụng của BIDV ở mức 34.871 tỷ đồng, tương ứng tỉ lệ bao phủ 73%.
Bên cạnh nỗ lực tự xử lý nợ của các ngân hàng, cơ chế pháp lý về mua bán và xử lý nợ cũng có những ảnh hưởng nhất định tới quá trình giải quyết nợ tồn đọng.
Bên cạnh đó, các cơ chế hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn có thể tạo điều kiện phục hồi khả năng trả nợ, nhưng cần có sự phân biệt rõ giữa khoản vay được cơ cấu lại có khả năng phục hồi và khoản vay thực chất đã giảm khả năng thu hồi.
Về phía các ngân hàng, SHS Research cho rằng chất lượng tài sản tiếp tục là một trong những biến số cần theo dõi trong quý IV/2026. Các chỉ tiêu đáng chú ý gồm nợ nhóm 2, nợ xấu hình thành mới, tỉ lệ bao phủ nợ xấu và chi phí tín dụng.
Trong bối cảnh tín dụng tiếp tục mở rộng, khả năng kiểm soát chất lượng cho vay, thu hồi nợ đã phát sinh rủi ro và duy trì bộ đệm dự phòng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trong thời gian tới.