Sản xuất công nghiệp quý I/2026 bật tăng, đạt mức cao nhất trong 7 năm

Quý I/2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước và là mức tăng cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%.

Theo số liệu từ Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 4/4, sản xuất công nghiệp trong quý I/2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mức tăng cao nhất của quý I kể từ năm 2020 đến nay, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%.

Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 ước tăng 18,8% so với tháng trước và tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp ngành chế biến, chế tạo tăng 7,5%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,6%; ngành khai khoáng tăng 2,6%.

Nhìn chung quý I, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Sản xuất công nghiệp quý I/2026 bật tăng, đạt mức cao nhất trong 7 năm- Ảnh 1.

Nhìn chung quý I, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.

Xét riêng từng ngành, chỉ số sản xuất quý I/2026 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 22,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 19,7%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 18,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 14,7%; sản xuất đồ uống tăng 14,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 13,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 12,0%; dệt tăng 8,6%; sản xuất trang phục tăng 8,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học cùng tăng 8,3%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 7,3%.

Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 3,1%; khai thác than cứng và than non giảm 4,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,9%.

Đáng chú ý, chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.

Cụ thể, Ninh Bình tăng 29,1%; Phú Thọ tăng 26,3%; Bắc Ninh tăng 19,4%; Thái Nguyên tăng 17,7%; Hải Phòng tăng 16,4%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Sơn La tăng 81,8%; Lai Châu tăng 39,5%; Nghệ An tăng 18,1%.

Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm, gồm: Lạng Sơn giảm 11,3%; Vĩnh Long giảm 4,9%; Quảng Trị giảm 1,3%. Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng quý I/2026 giảm so với cùng kỳ năm trước: Tuyên Quang giảm 10,3%; Gia Lai giảm 7,8%; Cà Mau giảm 5%.

Trong quý I, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 31,6%; thủy hải sản chế biến tăng 23,4%; thép thanh, thép góc tăng 21,1%; thép cán tăng 20,3%; sơn hóa học tăng 19,2%; ô tô tăng 18,5%; sữa bột tăng 14,5%; sắt, thép thô tăng 14,3%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân Ure giảm 9,6%; điện thoại di động giảm 6,6%; phân hỗn hợp NPK giảm 5,4%; than (than sạch) giảm 4,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên giảm 3,5%.

Riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, chỉ số tiêu thụ toàn ngành tháng 3/2026 tăng 14,7% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 5,4%).

Hơn 32.000 doanh nghiệp gia nhập thị trường mỗi thángGDP quý I/2026 tăng 7,83%

Cùng với đó, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2026 tăng 8,5% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 12,9% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân quý I/2026 là 84,8% (cùng kỳ năm 2025 là 90%).

Báo cáo cũng chỉ ra, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước.

Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,2% và giảm 0,2%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,1% và giảm 0,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,2% và tăng 3,4%.

Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,1% và tăng 2,4%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,4% và tăng 3,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% và 2,6%.